GIA PHẢ

CHUYỆN LỊCH SỬ HỌ NGUYỄN SĨ

Làng Tân Bòng – Thôn Ân Phú – Xã Mai Hoa – Tỉnh Hà Tĩnh

I. Đất tổ bên dòng Ngàn Sâu

Ở nơi hợp lưu của ba huyện Vũ Quang, Hương Sơn và Đức Thọ, có một dải đất nhỏ nằm bên tả ngạn sông Ngàn Sâu, xưa gọi là Kẻ Bòòng, rồi Trại Đầu, sau này mang tên Ân Phú – lấy theo ý “dân giàu nước mạnh” đặt từ thời vua Tự Đức. Đây là đất tổ của họ Nguyễn Sĩ, nơi các thế hệ nối tiếp nhau khai hoang lập ấp đã hơn sáu trăm năm.

Không ai còn nhớ chính xác người đầu tiên của dòng họ đặt chân đến vùng đất này là ai, chỉ biết có thể tổ tiên theo dòng người từ Thanh Hóa, Nghệ An vào khai khẩn từ cuối đời Trần, đầu đời Lê Sơ. Trong văn thờ Tiên hiền của làng Ân Phú còn ghi tên các cụ Xuân Vi, Sĩ Lan, Sĩ Kiệm – những bậc khoa cử được thờ tại miếu Tư văn – nhưng gốc tích của các cụ trước đó thì không còn ghi chép nào lưu lại. Vì vậy, dòng họ lấy ông Nguyễn Sĩ Ưu, người đỗ đạt và ra làm quan dưới triều Hậu Lê, làm mốc – vị Đệ nhất Tiên thế tổ được xác định rõ ràng nhất trong gia phả.

II. Từ Sĩ Ưu đến những đời thất lạc

Ông Nguyễn Sĩ Ưu thi đỗ năm mười tám tuổi, được bổ chức Bản phủ Hiệu sinh dưới triều Hậu Lê. Con cháu ông chia thành nhiều chi cánh, nhưng vì thời cuộc loạn lạc, việc ghi chép gia phả nhiều đời bị đứt quãng. Đến đời thứ hai, chi trưởng đã thất lạc hoàn toàn, không rõ tông tích; ba chi khác cũng biệt vô âm tín. May thay, chi thứ – dòng ông Sĩ Vận rồi Sĩ Chước, Sĩ Sùng, Sĩ Uyên – vẫn được nối tiếp, âm thầm gìn giữ huyết mạch của dòng họ qua bao thế hệ.

Đến đời thứ bảy, một nhánh khác của dòng họ – hai ông Nguyễn Thực và Nguyễn Sàng – cũng tuyệt tự vào khoảng những năm 1940-1950. Từ đó, chỉ còn lại một chi duy nhất tồn tại và phát triển: chi của ông Nguyễn Sĩ Uyên, người đã sinh ra hai con trai là Nguyễn Tính và Nguyễn Như Bách. Có thể nói, toàn bộ họ Nguyễn Sĩ ở Tân Bòng ngày nay là hậu duệ của một nhánh nhỏ nhoi còn sót lại giữa bao biến thiên dâu bể – và người làm rạng danh nhánh ấy chính là ông Nguyễn Tính.

III. Ông Đội Nguyễn Tính – người lập lại gia phả

Nguyễn Tính sinh năm Nhâm Thân (1832) tại làng Ân Phú, dưới triều vua Minh Mạng. Thuở nhỏ ông học chữ Hán, lớn lên là người cương trực, giỏi võ nghệ. Năm 27 tuổi (1858) – cũng chính là năm quân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta – ông gia nhập quân đội triều Nguyễn.

Gần ba mươi năm binh nghiệp, dấu chân ông in khắp Nghệ An, Nam Định, Lạng Sơn, Ninh Bình… Ông từng trấn giữ đồn ải, giao tranh với giặc ở Vân Mộng, Tâm Nguyên, Bắc Ngà, La An, Na Lan, Thái Hai Khe – nhiều trận thắng lợi được triều đình ban thưởng. Từ chức Ngụ trưởng, ông lần lượt được thăng Đội trưởng, Chánh Đội trưởng Suất Đội, rồi “Chấn võ vệ Lục Đội Chính Đội trưởng Suất Đội” khi được điều về phòng thủ Kinh đô Huế.

Ông chứng kiến những năm tháng đầy biến động của triều Nguyễn: vua Tự Đức băng hà năm 1883, Hòa ước Harmand ký kết nhường quyền bảo hộ cho Pháp, các đời vua Dục Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi nối nhau trong cảnh rối ren, và cuộc chạy ra Tân Sở của vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết mưu đồ phục quốc. Khi tuổi đã ngoài năm mươi, trải chinh chiến gần ba mươi năm, ông được quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết chuẩn cho về quê nghỉ hưu, mang theo hai đạo sắc phong Chính phẩm, một Lục phẩm và bốn đạo bằng khen thưởng.

Trở về làng Tân Bòng, ông Nguyễn Tính không chỉ an hưởng tuổi già mà còn làm một việc để lại giá trị lâu dài hơn mọi công trạng binh nghiệp: ông lần dò lại gốc tích tổ tiên và chép lại gia phả dòng họ. Nhờ công việc thầm lặng ấy, con cháu đời sau mới biết được cội nguồn của mình bắt đầu từ đâu. Ông mất năm Ất Mão (1915), thọ 84 tuổi, được suy tôn là Thủy tổ của chi họ Nguyễn Sĩ tại Tân Bòng – người nối lại sợi dây đã chực đứt của cả một dòng tộc.

IV. Con cháu tỏa ra bên bờ sông

Từ hai người con trai của ông Nguyễn Tính là Nguyễn Quýnh và Nguyễn Báo (đời thứ bảy), dòng họ dần đông đúc trở lại. Đến đời thứ chín, ông Nguyễn Chất cùng các em đã lập nên mười gia đình, vườn tược nối dài dọc bờ sông từ Hà Trung đến Bãi Bòòng – từ nhà thờ họ qua vườn ông Tham, ông Cam, ông Đam, ông Yết, ông Dượng, ông Sảnh, ông Thân, đến bến Thoong là nhà ông Miên, ông Tiên.

Đời sống khi ấy không hề dễ dàng. Trước Cải cách ruộng đất, phần lớn các gia đình chỉ có vài sào ruộng, thuộc diện bần nông. Năm 1963, ông Cam là người đầu tiên rời làng vào lập vườn trại. Rồi trận bom năm 1966 giáng xuống làng khiến cả mười gia đình phải sơ tán vào Rú Cháy, Cồn Cầy; nhiều nhà dỡ bỏ nhà cửa ở quê, chỉ còn lại ba nhà – ông Chất, ông Sảnh, ông Thân – bám trụ nơi đất cũ. Một thời gian dài, làng Bòòng trở thành vườn hoang.

Đến đời thứ mười, dòng họ sinh được ba mươi ba người con trai, hai mươi bảy người sống đến tuổi trưởng thành. Chiến tranh và bệnh tật đã lấy đi sáu người, trong đó có anh Nguyễn Xuân Linh hy sinh ngoài chiến trường. Những người còn lại đều được ăn học, phần lớn tốt nghiệp phổ thông, hai phần ba học lên đại học, cao đẳng, và dần dần tỏa đi lập nghiệp khắp nơi – không còn quẩn quanh trong mấy thửa ruộng chật hẹp bên sông như cha ông thuở trước.

V. Từ ruộng đồng ra bốn phương

Sang đến đời thứ mười một, mười hai, con cháu họ Nguyễn Sĩ đã có mặt khắp các tỉnh thành trong nước và cả ở nước ngoài. Người làm cán bộ, người làm kỹ sư, người mang quân hàm sĩ quan, người theo nghiệp giáo, nghiệp buôn – như lời tâm sự của một hậu duệ đời thứ mười đã viết trong lời tựa gia phả: “thế giới đang đi tìm văn minh ở các hành tinh khác thì con cháu họ Nguyễn chúng ta cũng phải biết đi tìm chỗ làm ăn khá giả”. Đó là bước chuyển tất yếu của một dòng họ vốn bắt đầu từ một khoảnh vườn nhỏ ven sông, qua chiến tranh, qua đói nghèo, để vươn ra một không gian sống rộng lớn hơn nhiều so với những gì tổ tiên từng biết tới.

Dù đi xa đến đâu, con cháu vẫn tìm về nhà thờ họ ở Tân Bòng mỗi dịp giỗ Tổ, vẫn nhắc nhau câu chuyện về ông Đội Nguyễn Tính rong ruổi ba mươi năm trận mạc để rồi trở về, lặng lẽ chép lại từng dòng gia phả – để hôm nay, hơn một trăm năm sau, những dòng chữ ấy vẫn còn được đọc, được kể lại, được viết tiếp.

“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.”