Cổ nhân phương Đông có câu:
“Mộc hữu bản, thủy hữu nguyên, nhân sinh bản hồ tổ.”
Nghĩa là: Cây có gốc, nước có nguồn; con người sinh ra đều có tổ tiên. Đó là đạo lý muôn đời, nhắc nhở mỗi người dù đi đâu, ở đâu cũng phải biết nguồn cội, tưởng nhớ công đức tổ tiên và giữ gìn đạo hiếu cho các thế hệ mai sau.
Họ Nguyễn ta ngày nay vốn là dòng dõi Nguyễn Sĩ, tổ tiên xưa có truyền thống khoa bảng. Các vị Tiên thủy tổ như các ngài Xuân Vi, Sĩ Lan, Sĩ Kiệm đều là bậc tiên hiền, được thờ tại miếu Tư văn.
Đệ nhất Tiên thế tổ của chúng ta là ngài Nguyễn Sĩ Ưu, năm mười tám tuổi thi đậu Nhất cử, làm chức Bản phủ Hiệu sinh dưới triều Hậu Lê. Đến ngài Nguyễn Tính, thường gọi là Ông Đội, là bậc thủy tổ trực hệ của chi phái, từng làm võ quan dưới triều Nguyễn và được phong hàm Lục phẩm vào đời vua Tự Đức.
Kế thừa truyền thống của tiền nhân, các thế hệ con cháu về sau luôn giữ nếp hiếu học. Trong dòng họ đã có nhiều người học hành thành đạt, trở thành cử nhân, kỹ sư, sĩ quan cấp tá, cấp úy trong Quân đội và Công an, góp phần phụng sự quê hương, đất nước.
Cha ông ta thuở trước sống theo phong tục lâu đời, luôn kính trọng tổ tiên, cầu mong tiên tổ phù hộ cho gia đình yên lành, con cháu mạnh khỏe, học hành tiến bộ, trưởng thành phụng sự Tổ quốc; rồi dù đi đâu, làm gì cũng nhớ trở về quê cha đất tổ, có con cháu nối dõi tông đường, đời đời hương khói, xuân thu nhị kỳ phụng thờ tiên tổ.
Tuy nhiên, người xưa ít có điều kiện ghi chép đầy đủ cuộc sống và hành trạng của mình để truyền lại cho hậu thế. Khi các ngài qua đời, những ký ức được lưu giữ trong con cháu cũng dần phai nhạt theo năm tháng và những biến thiên của cuộc sống. Bởi vậy, muốn hiểu rõ nguồn gốc của một dòng tộc mà không có gia phả, văn tự hay những ghi chép của tiền nhân thì con cháu đời sau khó có thể phân định đầy đủ căn nguyên, thế thứ và gốc rễ của mình.
Ngài Nguyễn Tính, sau gần ba mươi năm đi nhiều nơi phụng sự đất nước, đã sớm nhận thấy sự cần thiết phải lưu giữ nguồn cội cho con cháu mai sau. Vì vậy, ngài đã quan tâm sưu tầm, ghi chép và lập lại gia phả dòng tộc, lưu truyền cho hậu thế.
Nhờ những trang gia phả ấy, ngày nay chúng ta còn biết được tổ tiên của mình từ ba, bốn trăm năm trước; biết được thế thứ, nguồn cội để tưởng nhớ, tự hào, phụng thờ và tiếp tục truyền lại cho con cháu đời đời về sau.
Họ Nguyễn ta từ đời này qua đời khác đã cùng chung sống trên mảnh đất làng Tân Boòng, thuộc xã Ân Phú ngày nay. Theo truyền tụng, vùng đất này được khai dân lập ấp từ khoảng sáu trăm năm trước. Tuy nhiên, những thế hệ được gia phả ghi chép tương đối rõ ràng thì bắt đầu từ Đệ nhất Tiên thế tổ Nguyễn Sĩ Ưu.
Tính đến đời ông Nguyễn Chất là chín thế hệ. Những đời xa hơn, do tư liệu thất lạc và tiền nhân không để lại đầy đủ ghi chép, nên ngày nay khó xác định chính xác các chi môn khác là hậu duệ của Đệ nhất Tiên thế tổ Nguyễn Sĩ Ưu hiện đang sinh sống tại địa phương hay đã thiên cư đến những vùng đất khác.
Theo gia phả do ngài Nguyễn Tính ghi chép, từ đời thứ hai, chi trưởng đã thất lạc; bốn chi khác cũng không còn xác định rõ. Đến đời thứ tư, chi môn trưởng của ông Nguyễn Đình Phia hình thành một dòng phái và duy trì được ba đời. Đến đời thứ bảy, chi phái này có hai ông Nguyễn Thực và Nguyễn Sàng, nhưng về sau tuyệt tự vào khoảng thập niên 40–50 của thế kỷ XX.
Còn chi của ông Nguyễn Sĩ Sùng sinh ra ông Nguyễn Sĩ Uyên; ông Nguyễn Sĩ Uyên sinh ra hai ông Nguyễn Tính và Nguyễn Như Bách.
Đến cuối thập niên 1960, hậu duệ của ngài Nguyễn Tính đã phát triển thành mười gia đình thuộc đời thứ chín, gồm:
Nguyễn Chất, Nguyễn Tham, Nguyễn Cam, Nguyễn Hữu Đam, Nguyễn Trọng Yết, Nguyễn Văn Dượng, Nguyễn Sảnh, Nguyễn Thân, Nguyễn Miên và Nguyễn Tiên, sinh trong khoảng từ năm 1910 đến năm 1934.
Riêng tiểu phái thuộc đời thứ sáu là hậu duệ của ông Nguyễn Như Bách – em ông Nguyễn Tính – từng bị thất lạc qua hai thế hệ. Về sau, người cháu là ông Đoàn Trị, tức Nguyễn Đoàn Trị, đã tìm về nhận lại cội nguồn. Nay ông Nguyễn Đoàn Trị đã qua đời, không có con trai nối dõi; các con gái hiện sinh sống tại thành phố Hà Tĩnh.
Thiển nghĩ, trải bao đời dưới bóng tre làng, bên dòng Ngàn Sâu, mười người chắt của ngài Nguyễn Tính đã chia nhau sinh sống trên mảnh vườn do tiền nhân để lại tại xóm Tân Boòng. Từ nơi ấy, các thế hệ nối tiếp nhau sinh cơ lập nghiệp, gây dựng gia đình và làm nên một dòng tộc ngày càng đông đúc.
Ngày nay, xã hội đã có nhiều đổi thay. Việc con cháu đời thứ mười trở đi rời quê hương đi học tập, công tác và lập nghiệp ở nhiều nơi đã trở thành điều bình thường. Thế hệ thứ mười có 27 đinh trong nội tộc. Khi đến tuổi trưởng thành, chỉ còn một số ít ở lại quê hương làm nghề nông; phần đông đã thoát ly nông nghiệp, theo đuổi nhiều ngành nghề và lập nghiệp tại những vùng quê, thành phố khác nhau.
Sự đổi thay của xã hội đặt ra cho mỗi thế hệ những yêu cầu mới, nhưng đồng thời cũng đặt ra trách nhiệm đối với cội nguồn.
Quê hương ta từng trải qua hàng chục năm chiến tranh, bom đạn; từng sống trong những năm tháng kinh tế còn nhiều khó khăn của thời bao cấp; lại quanh năm đối mặt với thiên tai, khi hạn hán, lúc bão lụt. Người dân bao đời quanh quẩn với những cánh đồng chật hẹp, với hàng sắn, luống khoai để nuôi sống gia đình.
Trong khi đó, thế giới ngày càng phát triển với khoa học, kỹ thuật và nền công nghiệp hiện đại; con người có thể đi lại giữa các quốc gia trong một ngày, giao lưu và trao đổi thông tin khắp năm châu, thậm chí đã vươn tới khám phá những miền xa xôi ngoài Trái Đất.
Bởi vậy, con cháu họ Nguyễn chúng ta cũng phải biết vươn lên, tìm nơi lập nghiệp, học hành, trau dồi tri thức, phát triển kinh tế và phấn đấu cùng xã hội. Việc rời quê để học tập và lập nghiệp không có nghĩa là rời bỏ quê hương. Trái lại, càng đi xa, càng trưởng thành, càng phải nhớ đến nơi mình đã sinh ra và cội nguồn của dòng tộc.
Chắc rằng khi còn tại thế, các bậc tiền nhân cũng hằng mong con cháu mình ngày một phát triển, học hành thành đạt, theo kịp thời đại, làm rạng danh gia đình, dòng họ và quê hương.
Nghĩ đến cội nguồn, quê cha đất tổ; nghĩ đến những người đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng đã lưu truyền huyết thống để có chúng ta ngày hôm nay, mỗi người càng phải biết trân trọng những gì tổ tiên để lại.
Chúng ta là con cháu của dòng tộc Nguyễn Sĩ, sinh ra từ đất làng Tân Boòng, xã Ân Phú. Dù hôm nay và mai sau con cháu có sinh sống ở nơi đâu, dù ở chốn phồn hoa đô hội hay nơi quê nhà ruộng đồng, dù cuộc sống giàu sang hay thanh đạm, cũng xin đừng bao giờ quên tổ tiên đã sinh thành nên dòng tộc mình.
Anh em cùng chung huyết thống hãy luôn thương yêu, đoàn kết. Dẫu cách xa muôn dặm vẫn nhớ đến nhau, quan tâm, nâng đỡ và dìu dắt nhau cùng tiến về phía trước; lấy đạo hiếu làm gốc, lấy nghĩa tình làm trọng, lấy sự học và lòng nhân làm nền để giữ gìn gia phong và truyền lại cho các thế hệ mai sau.
Để rồi, dù trải qua bao nhiêu đời, con cháu vẫn luôn nhớ rằng:
天之有日月光照十方
人之有祖宗流垂萬世
Thiên chi hữu nhật nguyệt, quang chiếu thập phương;
Nhân chi hữu tổ tông, lưu thùy vạn thế.
Trời có mặt trời, mặt trăng soi sáng mười phương;
Người có tổ tiên, ân đức lưu truyền muôn thuở.
Nguyễn Thế Phiệt
Viễn tôn đệ thập
Kính tập