Từ đời thứ 1 , xác định như sau:
Đời thứ 1 : Ông Sĩ Ưu là gốc đầu tiên
Đời thứ 2: Tộc trưởng: ông Sĩ Vận
| SĨ ƯU | 1 | |||||||
| Duyệt Hoa công chúa | Quế Hoa công chúa | 5 | 4 | 3 | 2 | SĨ VẬN | Trưởng (thất tích) | 2 |
Đời thứ 3: Tộc trưởng ông Sĩ Dao
| SĨ VẬN | 2 | |
| SĨ CHƯỚC | SĨ DAO (vô tự) | 3 |
Đời thứ 4: Tộc trưởng Đình Phia
Đời thứ 5: Tộc trưởng Đình Doạn
Đời thứ 6: Tộc trưởng Đình Sâm
Đời thứ 7: Tộc trưởng Nguyễn Sàng
Đời thứ 8: Tộc trưởng Nguyễn San
| SĨ CHƯỚC | ||||||||
| SĨ SÙNG | ĐÌNH PHIA | 4 | ||||||
| SĨ UYÊN | ĐÌNH THÙY | ĐÌNH DOẠN | 5 | |||||
| Như Bách | Nguyễn Tính | Đình Hận | Đình Niêm | Đình Sâm | 6 | |||
| Nguyễn Lương (Đoàn Tụy) | Văn Báu | Văn Quýnh | Nguyễn Thực | Nguyễn Sàng | 7 | |||
| Nguyễn TRỊ | Nguyễn THUYÊN | Nguyễn NGHỆ | Nguyễn XAN | Nguyễn SAN | 8 | |||
Như vậy, khi thiết lập tế tự, theo gia phả ông Nguyễn Chất viết năm 1943 thì khi cánh trên bị tuyệt tự, cánh dưới thay, lập ông Nguyễn San là tộc trưởng, ông Nguyễn Tính là Thủy tổ của gia tộc, phía trên là tiên thủy tổ, từ ông Nguyễn Thực trở lên của cánh trên là tổ bá, không còn thừa tự.
Đời thứ 6:
Thủy tổ Trọng phái : Nguyễn Tính – Bá phái Nguyễn Đình Sâm
Đời thứ 7 : Trọng phái Nguyễn Quýnh – Bá phái Nguyễn Sàng ?
Đời thứ 8 : Tộc trưởng Nguyễn San
Đời thứ 9 : Tộc trưởng Nguyễn Chất
Đời thứ 10: Tộc trưởng Nguyễn Tường – Nguyễn Văn Hồng nhiếp chính
Đời thứ 11: Tộc trưởng Nguyễn Cao Nguyên
TIÊN TỔ
Theo phả tộc do ông Nguyễn Tính khởi lập và đến đời chắt của ngài là ông Nguyễn Văn Chất biên soạn lại thì người đầu tiên về Ân Phú lập nghiệp không rõ là ai, thuộc đời nào trong lịch sử. Dòng dõi nhà mình với những người có danh tiếng trong làng xã còn lưu laị tên các ông Xuân Vi cựu thần – Quốc tử giám giám sinh thời Tiền Lê; ông Sĩ Lan, Sĩ Kiệm – Quốc tử giám giám sinh; và ông Nguyễn Đình là một vị Tướng thần đời Lê Trung hưng.
ÔNG NGUYỄN SĨ ƯU
Người đầu tiên khi xác lập gia phả gọi là đệ nhất tiên Thế tổ là Ông Nguyễn Sĩ Ưu sống cách Ông Nguyễn Tính 5 đời, khoảng 200 năm, vào thời kỳ xung đột Trịnh Nguyễn (1627-1672). Bà là Cù Thị Cường có 8 người con, năm người thuộc các chi khác nay không rõ, Ông Sĩ Vận là con trai thứ và 2 vị tổ cô là Quế Hoa Công Chúa Nguyễn Thị Bằng và Duyệt Hoa Công Chúa.
Ông Sĩ Ưu là một vị Khoa bảng thời Hậu Lê, 18 tuổi đã thi đỗ cao làm chức Hiệu sinh trong Phủ, lúc về già chết ở quê, mộ táng taị Đồng Mụ ú, nay con cháu đã xây cất thành “Lăng Đệ Nhất Tiên Thế tổ “ vào ngày 6 tháng giêng năm Giáp Tuất -1994
Đời thứ hai
Cánh trưởng thất lạc
4 cánh khác thất lạc
2 vị tổ cô là Quế Hoa Công Chúa Nguyễn Thị Bằng và Duyệt Hoa Công Chúa Nguyễn Thị Châu(?)
Cánh chính của họ đến nay: ông Nguyễn Sĩ Vận
ÔNG NGUYỄN SĨ VẬN
Ông Sĩ Vận con trai thứ Ông Sĩ Ưu sinh chết năm nào không rõ, mộ táng taị Đồng Tràng sau cải táng dưới chân núi Mộng Gà nay bị thất tích. Đời thứ 10 lập mộ phục vị tại Nghĩa địa Đá Bạc.
Bà là Trần Thị Niệm, không rõ năm sinh, năm mất và mộ cũng bị thất tích, nay cũng lập mộ phục vị tại Nghĩa địa Đá Bạc.
Ông bà có 2 người con:
- Nguyễn Sĩ Dao (Vô tự)
- Nguyễn Sĩ Chước
Ngoại tổ Trần Dụng Tài và bà Trần Thị Kỳ sinh được một người con gái là Trần Thị Vưu, lấy về họ Nguyễn và lập con gái làm thừa tự ( lấy ông Nguyễn Sĩ Chước- đời thứ 3)
Ông bà chết và táng ở xứ Đại Ngàn, kỵ ông 10/12, kỵ bà 10 tháng 3
Đời thứ ba
1- NGUYỄN SĨ DAO vô tự
2- ÔNG NGUYỄN SĨ CHƯỚC
Ông Sĩ Chước, con ông Sĩ Vận, Cháu ông Sĩ Ưu.
Sinh, mất năm nào không rõ, kỵ ngày 18/3.
Mộ ông cát táng taị Nghĩa địa Đá bạc.
Bà là Trần Thị Vưu, người xứ Đaị Ngàn, con ông Trần Dụng Tài và Bà Trần Thị Kỳ. Mộ bà taị Nghĩa địa Đá bạc, kỵ ngày 25/8.
Ông bà có 6 người con.
-Trai
1)Nguyễn Đình Phia
2)Nguyễn Sĩ Sùng
-Gái 1) Nguyễn Thị Naị
2) Nguyễn Thị Bản
3) Nguyễn Thị Trình
4) Nguyễn Thị Khăng
Đời thứ bốn
Đời thứ 4 có 2 ông và 4 bà con gái
1- ÔNG NGUYỄN ĐÌNH PHIA
Ông Đình Phia kỵ ngày 27/7 – Mộ cải táng ở Rú Ngai.
Bà Phùng Thị Huống – Có 4 người con
Con trai Nguyễn Đình Doạn
Nguyễn Đình Thùy
Con gái Nguyễn Thị Hoán
Nguyễn Thị Hoàn Chết sớm
2. ÔNG NGUYỄN SĨ SÙNG
Ông Nguyễn Sĩ Sùng con thứ ông Sĩ Chước cháu ông Sĩ Vận, sinh thời làm Chánh tổng ở làng Kỳ lão. Kỵ ngày 30 tháng 12. Thọ trên 70 tuổi. Mộ taị nghĩa địa Đá bạc.
Bà chính thất Trần Thị Thứ -Thọ trên 80 tuổi.
Kỵ ngaỳ 20 tháng 8. Mộ taị Nghĩa địa Đá bạc.
Con trai Nguyễn Đình Đoan
Nguyễn Sĩ Uyên
Nguyễn Đình Ngơi
Con gái Nguyễn Thị Chuyên
Nguyễn Thị Xuyến
Nguyễn Thị Yên
Bà thứ thất Trần Thị Chuyên –
Kỵ ngày 12 /12. Mộ táng tại Đồng Thoong (thất tích)
Con gái NguyễnThị Ngâm
CON GÁI ĐỜI THỨ BỐN
1- Nguyễn Thị Naị Chồng Trần Đình Diện
2- Nguyễn Thị Bản Chồng Đặng Đình Ngoạn
3- Nguyễn Thị Trình Chồng Trần Đình Quyến
4- Nguyễn Thị Khăng Chồng Phan Văn Đáng
Đời thứ năm
Đời thứ 5 có 4 ông và 5 bà con gái
1. ÔNG NGUYỄN SĨ DOẠN
Ông Nguyễn Sĩ Doạn con ông Đình Phia, cháu ông Sĩ Chước -kỵ ngày 25 tháng 10. Mộ thất tích.
Bà Trần Thị Thanh
Con trai
Nguyễn Đình Sâm
Nguyễn đình Niêm
Nguyễn Đình Liêm
Con gái Nguyễn Thị Hườm
Nguyễn Thị Vóc
2. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH THÙY
Ong Đình Thùy con Ông Đình Phia, cháu ông Sĩ Chước -kỵ ngày 11 tháng 3. Mộ táng taị Đồng Thoong nay thất tích.
Bà Trần Thị Hoang kỵ ngày 20 tháng 12 mộ táng taị Lò Nồi
Con trai Nguyễn Đình Hận
Con gái Nguyễn Thị Trầm
3. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH ĐOAN
Ông Đình Đoan con ông Sĩ Sùng, Cháu ông Sĩ Chứơc. Vô tự -Kỵ ngày 12 tháng 12 -mộ táng tại Đầu cầu.
4- ÔNG NGUYỄN SĨ UYÊN
Ông Sĩ Uyên con ông Sĩ Sùng, cháu ông Sĩ Chước.
Sinh thời ông được phong Viên Phụ, hưởng lộc con làm quan đến lục phẩm. Tính tình thuần hậu, ông mất năm 1877, hưởng thọ trên 80 tuổi.
Dị hiệu: Tiền triều ân tử viên phụ lão nhiêu hương đình trùm lão bản xã hiệu sinh hội giá hội kiêm tư văn hội thông hội Nguyễn Quý công, thụy chất trực thuần hậu thân chủ
Kỵ ngày 22 tháng 3. Mộ tại nghĩa địa Đá bạc.
Bà Cù Thị Thỏa, mất năm 1882, thọ trên 80 tuổi. Dị hiệu: Tùng phu chức Nguyễn Chính thất Cù Thị hạng Hiệu Từ mỵ phu nhân chi linh. Mộ tại nghĩa địa Đá bạc.
Con trai 1. Nguyễn Đình Cánh
2. Nguyễn Tính
3. Nguyễn Đức
4. Nguyễn Như Bách
Con gái: 1. Nguyễn Thị Phượng
2. Nguyễn Thị Di chết sớ
3. Nguyễn Thị Nguyên
CON GÁI ĐỜI THỨ NĂM
1- Nguyễn Thị Hoán chồng Nguyễn Đình Tưởng
2- Nguyễn Thị Chuyên chổng Đặng Đình Thuận
3- Nguyễn Thị Xuyến chồng Phùng Thiết
4- Nguyễn Thị Yên chồng Trần Đình Tích
5- NguyễnThị Ngân chồng Trần Đình Kiệm.
Đời thứ sáu
Đời thứ 6 có 8 ông và 5 bà con gái
1. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH SÂM
Ông Đình Sâm con ông Sĩ Doạn, cháu ông Đình Phia. Bà Hồ Thị Ninh
-Mộ của Ông, Bà táng ở Lò nồi, nay thất tích.
Con trai Nguyễn Sàng chết sớm
2. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH NIÊM
Ông Đình Niêm con ông Sĩ Doạn, cháu ông Đình Phia. Bà Lê Thị Chương. Mộ của ông, bà táng ở Đồng Thoong, nay thất tích
Con trai Nguyễn Thực – chết sớm
3. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LIÊM
chết sớm
4. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH HẬN
Ông Đình Hận con ông Sĩ Thuỳ, cháu ông Đình Phia.
Bà Đặng Thị Diến. Mộ thất tích
Con gái Nguyễn Thị Lan -Vô tự
5. ÔNG NGUYỄN ĐÌNH CÁNH
Ông Đình Cánh con ông Sỹ Uyên cháu ông Sĩ Sùng . Chết lúc 18 tuổi, mộ thất tích. Kỵ ngày 6 tháng 4
6. ÔNG NGUYỄN TÍNH
Con ông Sỹ Uyên cháu ông Sĩ Sùng (Tiểu sử trang sau)
7. ÔNG NGUYỄN ĐỨC
Ông Nguyễn Đức con ông Sỹ Uyên cháu ông Sĩ Sùng. Chết sớm, mộ táng ở Đầu cầu, nay thất tích. Kỵ ngày 15 tháng 7
8. ÔNG NGUYỄN NHƯ BÁCH
Ông Như Bách Con ông Sĩ Uyên, cháu ông Sĩ Sùng. Mộ tại nghĩa địa Đá bạc -Kỵ ngày 16 tháng 7.
Bà cả Phạm Thị Phong người xã Sơn Long
Mộ taị nghĩa địa Rú Ngai, Kỵ ngày 16 tháng 7
Con trai Nguyễn Khảo chết sớm
Con gái Nguyễn thị Hảo chết sớm
Bà thứ Nguyễn Thị Bính
Con trai
Nguyễn Lương
Con gái Nguyễn Thị Trương
Khi Ông Như Bách chết, bà Bính đưa 2 con đi nơi khác sinh sống,
ông Đoàn Trị,
quê ở Đức Hòa, sinh năm 1944, hiện sống ở thành phố Hà Tĩnh về nhận họ.
Theo dòng dõi thì ông Đoàn Trị là con ông Nguyễn Lương cháu ông Như Bách và bà Nguyễn Thị Bính – Bà Bính lấy làm vợ kế ông Nguyễn Như Bách sau lúc bà Phạm thị Phong chết. Nhưng sau khi ông Như Bách chết thì bà Bính bán con là ông Nguyễn Lương về làm con nuôi họ Đoàn ở Đức Hòa, cải tên Đoàn Tụy. Ông Lương lớn lên lập gia đình được 2 người con gái và đi phu ở Lào, trong lúc ở nhà vợ có thai, sau đó sinh ông Đoàn Trị – khi tin vợ sinh, ông Lương về lại nhà nhưng trên đường về thị bị chết trên đất Lào, năm 1944. Kỵ ngày 19/12.

