NHÀ THỜ HỌ

Nhà thờ họ Nguyễn tọa lạc tại Làng Tân Bòng, thôn Ân Phú, trên mảnh vườn của ông Nguyễn Chất, tổ tiên 10 đời để lại. Nhà thờ được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2011. Công lao lớn để thành lập, giữ dìn, khôi phục và phát triển nhà thờ này là sự đoàn kết của toàn dòng tộc.

Trên nốc nhà thờ còn ghi năm kiến thiết 1939 và hoàn thành là 1940.

Nhà thờ lúc đó là 3 gian nhà bằng gỗ mít, loại gỗ đắt giá nhất; được xây dựng bằng gạch vôi nung; mái lợp ngói âm dương. 

Trước đây, trong nhà thờ đầy đủ long ngai và các dụng cụ thờ; nhiều dụng cụ mua từ Hà Nội về. Những năm 50 của thế kỷ trước thì nhà thờ là ngôi nhà lợp ngói duy nhất tại làng Bòong còn sót lại sau cải cách ruộng đất. 

Cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước; sau khi ông Nguyễn Chất qua đời; nhà ở cũ bán đi; chỉ còn trơ lại căn nhà 3 gian mái ngói dột nát. Đồ thờ mất mát dần qua mấy cơn lụt; nền nhà thờ cũng thấp dần do sự bồi đắp phù sa của vườn. Nhà thờ chỉ còn hoang vắng trong làng Boòng hoang vắng.

Tháng giêng năm 1995, bắt đầu việc gây dựng lại nhà thờ. trong họ anh em đi ra đóng góp, số tiền huy động được 6.000.000 đồng. Công việc đầu tiên là chống dột, sửa sân, làm cổng, đắp tạc môn… công việc tạm ổn, rồi ra đi.

Sau đó 2 năm, việc làm rất cần thiết, đợt đó là phải thay mái ngói và xây lại tường, xây bàn thờ vì bàn thờ gỗ bị hư hỏng, ngói bị dột nặng. Kinh phí huy động được trên 4  triệu, nhưng phải xây dựng trên 10 triệu đồng, toàn bộ công thợ hết 7 triệu đồng do Nguyễn Thế Phiệt tự nguyện cung tiến, sau đó là Nguyễn Hữ Đức và Nguyễn Hữu Kỳ phát tâm,  đã tự nguyện bỏ tiền. Sau 2 tháng, họ có thêm nhà bái đường rộng 64 mét vuông, với chi phí do Đức và Kỳ cung cấp,  vận động anh em đóng góp.

Đợt chỉnh sửa lần thứ 3 cũng từ phát tâm của Nguyễn Hữu Đức.

Lần mới nhất là năm 2017 toàn họ đóng góp .

Các công trình trong nhà thờ được xây dựng trên ý tưởng:

Hai cổng nhà thờ là cả một công trình kiến trúc đầy ý nghĩ cả về văn hóa,

Cổng một được hoàn thành với ý tưởng hội tụ văn hóa của một dòng tộc có nguồn gốc lâu đời ,với sự tiếp nhận, bồi đắp và duy trì của cụ tổ Nguyễn Tính.

Cụ Nguyễn Tính vốn là quan võ của triều đình, khi về hưu đã tìm lại nòi giống và tổ tiên; gép nối từ đời can của mình trở xuống một cách mạch lạc; tuy rằng lúc đó cụ là người cửa thứ. Tiên thủy tổ là một dòng tộc lớn, ba danh nhân Nguyễn Sĩ Lan, Nguyễn Sĩ Kiệm, Nguyễn Sĩ Ưu là Tiên hiền của xã, có nghĩa là những người thành lập nên xã Trại Đầu, tiền thân của xã Ân Phú ngày nay, các cụ có công ngang với Sử Hy Nhan, Sử Đức Huy trong việc tạo nên quê hương này; các cụ đều là khoa bản học từ trường Quốc tử giám và Phủ giám; nhưng trải qua trên 200 năm đến đời cụ Nguyễn Tính đã bị mai một trong chiến tranh bắc – nam liên miên. Đến đời cụ chỉ ghi chép lại dị hiệu mà thôi; ngay cả đời ông của cụ là Chánh tổng Nguyễn Sĩ Sùng, nhưng cũng chỉ còn tên tuổi và dị hiệu; không ghi lại được chút công danh nào mà các cụ đã làm nên xã này. Chính vì vậy, ý tưởng của tôi là ghi lại công danh của một đại dòng tộc Nguyễn – nghĩa là những người họ nguyễn mà do các cụ Nguyễn Sĩ Lan, Nguyễn Sĩ Kiệm và đặc biệt là cụ Nguyễn Sĩ Ưu sinh ra; đến đời chắt của cụ là cụ Nguyễn Tính tập hợp lại” cổng đề –BẢN THIỆN HỘI NGỘ HUYNH ĐỆ HOA VIÊN – có nghĩa là nơi hoa viên này là nơi hôi tụ tình anh em máu mủ của họ Nguyễn với sự tập hợp của ngài Nguyễn Tính, tên tự là Bản Thiện.

Hai câu đối lớn phía ngoài: 

Kê sơn lĩnh vọng thương yên, nguyễn nhân diên quảng tự

Ốc thủy giang thâm hoài vụ, tài lộc viễn trường lưu

Có nghĩa là: Nơi nhà thờ này tọa lạc là nơi đắc địa, 

-có núi Mồng gà cao đứng sau, mây trùng điệp tạo nên người họ Nguyễn này nối mãi đời đời

-có sông Ngàn sâu sâu chảy phía trước, sương trắng lấp lánh cuộn giữ tài lộc cho dòng tộc mãi sau này.

Hai câu đối nhỏ: tương diên vi tổ lệ, nhĩ ẩm thủy tư nguyên

Có nghĩa là: noi công lao tiên tổ, uống nước phải nhớ nguồn.

Hai câu đối phía trong: 

Hùng kính phá sài lang huân công tiền nhân bồi phẩm tước

Phục quang hồi thái vận bản thiện hậu thế chí kỳ vinh

Có nghĩa là:

 Ông tổ Nguyễn Tính giỏi giang, anh hùng( Hùng Kính) thời trước, đã lập nên thành tích lớn được hưởng tước lớn của triều đình, dành vinh hoa cho họ hàng- Nhưng cũng tên hiệu của ngài là Hùng Kính.

  Biết ơn nghĩa với Thủy Tổ Nguyễn Tính, hậu thế khôi phục lại sự vinh quang có nguyồn gốc (Bản Thiện) của Ngài, đây là vinh quang của con cháu được thừa hưởng từ công lao của tiên tổ- Đây cũng là tên tự của Ngài: Bản Thiện.

Hai bài thơ chữ hán :

Bài thứ nhất phía ngoài cổng, tức cảnh từ tuyệt tác của nhà thơ Trung quốc đời nhà Đường : bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế; tôi cảm thấy nhà thờ này cũng đẹp như cảnh đó ở Trung Quốc, nơi tôi đã đến thăm, cho nên viết theo rằng:

 Đề Phong Kiều dạ bạc tại Bồng Phúc dã thôn  

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 
Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 
Bồng thôn hương cựu Thâm Giang ngạn   
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Dịch nghĩa: 

Trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời. 
Hàng phong bên sông, ngọn đèn thuyền chài ở trước người đang ngủ buồn. 
Nơi bờ sông Ngàn Sâu là xóm Tân Bòng thôn dã có ngôi nhà thờ này, 
Tiếng chuông lúc nửa đêm vẳng đến thuyền khách.

Nguyên tác là: 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên, 
Giang phong ngư hoả đối sầu miên. 
 Cô tô  thành ngoại Hàn Sơn tự , 
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Bài thứ hai:  Viên cố nguyện minh

(Vịnh “Vườn xưa”)

Giang thâm, Ốc thủy nhất thủy giang

Kê san lĩnh vọng lưỡng trùng san

Nguyễn gia thế lực vinh phồn diễn

Viên cố tùng phong thủy nguyệt hoàn

Giáp ngọ quý thu đệ thập trọng nam đề thi Thế Phiệt, Hữu Kỳ, Hữu Đức.

TRĂNG SÁNG VƯỜN XƯA

(Có ngàn xưa công cha, chú – có bây giờ bên bến Ngàn Sâu, một tòa Nhà thờ họ)

Bài thơ họa lại bài thơ “Vườn Xưa” của chú – cảnh man mác trong sự suy tàn, nay con cháu phục hưng lại. Bài thơ đề tên  người yêu thích là Thế Phiệt, Hữu Kỳ và Hữu Đức, Hữu Thuận

Dịch nghĩa là:

Sông Ốc Thủy cùng Ngàn Sâu, tuy hai tên nhưng mặt một

Núi Mồng Gà hai ngọn chiếu(bóng) từ ngàn xưa trên đất Ân Phú này và

Họ Nguyễn ta có từ khi khai dân lập ấp

Mơ ước cũ, vườn xưa…(nay) trăng soi bóng của thời thịnh vượng.

 Cổng 2 nơi vào nhà thờ chính, được thiết kế theo cấu trúc Huế, một mơ ước của ông tộc trưởng Nguyễn Chất khi đi qua Huế năm 1985.

Với ý tưởng đó, qua hai lần xây và sửa, họ mời được tốp thợ người Huế qua công ty của Ngụ tại Hà Tĩnh về đắp lại cổng và tách môn.

Công tại dĩ tiền bồi phẩm tước

Đức truyền thế hậu phúc lưu nhân

Bốn chữ VIỄN ĐIỀU PHỒN DIỄN viết bên cổng.
Bốn chữ này lấy từ bài Tiêu Liêu trong Đường Phong – Kinh Thi.
Tiêu liêu chi thực; Phồn diễn doanh thăng; 
Bỉ kỳ chi tử; Thạc đại vô bằng.
Tiêu liêu thư; Viễn điều thư.
Tiêu liêu chi thực; Phồn diễn doanh cúc; 
Bỉ kỳ chi tử; Thạc đại thả đốc.
Tiêu liêu thư; Viễn điều thư

Bài thơ nói cây Tiêu liêu cành dài thân lớn nên quả hạt nhiều (đầy đấu, đầy tay)

Phồn diễn: tức phồn thịnh, đông đúc. Viễn điều: chỉ cành dài nhánh dài. Câu hoành phi có ý nói: Dòng họ lâu đời, con cháu phồn thịnh.

Hai câu phía trong của cột cổng là:

Bát thập niên tiền chung phục thủy

Thập dư thế hậu dị nhi đồng

Nghĩa là tám mươi năm trước cha ông đã xây dựng nhà thờ này để thờ tự người đời xưa,

Ngày nay con cháu đời thứ 10 đã sửa chữa  để nhà thờ được nghiêm túc như ngày xưa ấy.

Phía trong của bái đường, hai câu:

Trung liệt nhất thời phù tiền triều chung chí khí

Anh linh vạn thế tý hậu bối tác trường ân

Tại cột nanh và cột đỡ mái trươc chính điện là hai câu đối có nội dung là:

Đột ngột kê quan hùng kiếm bộ

Sách hồi ốc thủy phúc nguyên trường

Mộc bản thủy nguyên luân lý trọng

Thu sương xuân lộ cảm hoài thâm

Vạn cổ cương thường trọng

Thiên thu thư đậu hương

Trong chính điện:

Hoành phi : Ẩm thủy tư nguyên

Hai câu đối trong do tôi viết nghĩa, em Thống biếu tiền chạm trổ, nội dung  là :

Tại Triều   Chính Lục  Phẩm Gia Phong, Tăng   Vinh  Quang   Tiên Tổ

Hồi Quán  Cư Hương  Đình  Thủ Chỉ,   Khởi  Thế  Nghiệp Hậu  Nhân

Hai câu này ý nghĩa là cụ Nguyễn Tính là người có công với nước, với nhà. Lúc cụ làm quan đã được bổ hàm lục phẩm, một vị quan lớn trong triều đình, tước của cụ là vinh quang cho một gia tộc quyền quý, làm rạng danh cho tổ tiên họ Nguyễn từ đời xưa. Khi về quê cũng là người vinh dự trong việc làng, tạo cho thế nghiệp của con cháu đời sau phồn thịnh mãi.

 Hai câu phía trong là câu đối chung của thế gian dùng ca ngợi công đức tổ tiên để lại gương sáng cho con cháu, nội dung là:

Tổ công tông đức thiên niên thịnh

Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương

Ý nghĩa việc xây dựng, duy tu, tôn tạo nhà thờ để có như ngày nay là cả một quá trình 3 thế hệ, đời thứ 8, thứ 9 và thứ 10. Sự huy động về tài lực và cách tổ chức khéo léo cả về kỹ thuật và điều hành mới thực hiện được như ngày nay.