DÒNG HỌ TỪ ĐỜI THỨ 1 ĐẾN ĐỜI THỨ 6

Họ tộc có từ lâu đời, nhưng việc tổ chức hệ thống dòng tộc chỉ được xác nhận từ khi ông Nguyễn Tính hồi hương. Khi ông thiết lấp gia phả, lần hồi lại gốc tích thì chỉ ghi chép được một phần của đời Can của Ngài trở lại, nhưng chi của ngài vẫn là chi thứ 2,chi trên thất tích, 3 chi dưới không rõ nguồn cội.

Từ đời thứ 1 , xác định như sau:

Đời thứ 1 : Ông Sĩ Ưu là gốc đầu tiên

Đời thứ 2: Tộc trưởng: ông Sĩ Vận

SĨ ƯU1
Duyệt Hoa công chúaQuế Hoa công chúa5432SĨ VẬNTrưởng (thất tích)2

Đời thứ 3: Tộc trưởng ông Sĩ Dao

SĨ VẬN2
SĨ CHƯỚCSĨ DAO (vô tự)3

Đời thứ 4: Tộc trưởng Đình Phia

Đời thứ 5: Tộc trưởng Đình Doạn

Đời thứ 6: Tộc trưởng Đình Sâm

Đời thứ 7: Tộc trưởng Nguyễn Sàng

Đời thứ 8: Tộc trưởng Nguyễn San

SĨ CHƯỚC 
SĨ SÙNGĐÌNH PHIA4
SĨ UYÊNĐÌNH THÙYĐÌNH  DOẠN5
Như BáchNguyễn TínhĐình HậnĐình NiêmĐình Sâm6
Nguyễn Lương (Đoàn Tụy)Văn BáuVăn Quýnh Nguyễn ThựcNguyễn Sàng7
Nguyễn TRỊNguyễn THUYÊNNguyễn NGHỆNguyễn XANNguyễn SAN 8

Như vậy, khi thiết lập tế tự, theo gia phả ông Nguyễn Chất viết năm 1943 thì khi cánh trên bị tuyệt tự, cánh dưới thay, lập ông Nguyễn San là tộc trưởng, ông Nguyễn Tính là Thủy tổ của gia tộc, phía trên là tiên thủy tổ, từ ông Nguyễn Thực trở lên của cánh trên là tổ bá, không còn thừa tự.

Đời thứ 6:
Thủy tổ Trọng phái : Nguyễn Tính  – Bá phái Nguyễn Đình Sâm

Đời thứ 7 : Trọng phái Nguyễn Quýnh – Bá phái Nguyễn Sàng ?

Đời thứ 8 : Tộc trưởng Nguyễn San

Đời thứ 9 : Tộc trưởng Nguyễn Chất

Đời thứ 10: Tộc trưởng Nguyễn Tường – Nguyễn Văn Hồng nhiếp chính

Đời thứ 11: Tộc trưởng Nguyễn Cao Nguyên

TIÊN TỔ

 Theo phả tộc do ông Nguyễn Tính khởi lập và đến đời chắt của ngài là ông Nguyễn Văn Chất biên soạn lại thì người đầu tiên về Ân Phú lập nghiệp không rõ là ai, thuộc đời nào trong lịch sử.  Dòng dõi nhà mình với những người có danh tiếng trong làng xã còn lưu laị tên các ông Xuân Vi cựu thần –  Quốc tử giám giám sinh thời Tiền Lê;  ông Sĩ Lan, Sĩ Kiệm – Quốc tử giám giám sinh;  và ông Nguyễn Đình là một vị Tướng thần đời Lê Trung hưng. 

ÔNG NGUYỄN SĨ ƯU

Người đầu tiên khi xác lập gia phả gọi là đệ nhất tiên Thế tổ là Ông Nguyễn Sĩ Ưu sống cách Ông Nguyễn Tính 5 đời, khoảng 200 năm, vào thời kỳ xung đột Trịnh Nguyễn (1627-1672).  Bà là Cù Thị Cường có 8 người con, năm người thuộc các chi khác nay không rõ, Ông Sĩ Vận là con trai thứ và 2 vị tổ cô là Quế Hoa Công Chúa Nguyễn Thị Bằng và Duyệt Hoa Công Chúa. 

 Ông Sĩ Ưu là một vị Khoa bảng thời Hậu Lê, 18 tuổi đã thi đỗ cao làm chức Hiệu  sinh trong Phủ, lúc về già chết ở quê, mộ táng taị Đồng Mụ ú, nay con cháu đã xây cất thành “Lăng Đệ Nhất Tiên Thế tổ “ vào ngày 6 tháng giêng năm Giáp Tuất -1994

Đời thứ hai

Cánh trưởng thất lạc

4 cánh khác thất lạc

2 vị tổ cô là Quế Hoa Công Chúa Nguyễn Thị Bằng và Duyệt Hoa Công Chúa Nguyễn Thị Châu(?)

Cánh chính của họ đến nay: ông Nguyễn Sĩ Vận

ÔNG NGUYỄN SĨ VẬN

Ông Sĩ Vận con trai thứ Ông Sĩ Ưu sinh chết năm nào không rõ, mộ táng taị Đồng Tràng sau cải táng dưới chân núi Mộng Gà nay bị thất tích.  Đời thứ 10 lập mộ phục vị tại Nghĩa địa Đá Bạc.

Bà là Trần Thị Niệm, không rõ năm sinh, năm mất và mộ cũng bị thất tích, nay cũng lập mộ phục vị tại Nghĩa địa Đá Bạc.

Ông bà có 2 người con:

  1. Nguyễn Sĩ Dao (Vô tự)
  2. Nguyễn Sĩ Chước

Ngoại tổ Trần Dụng Tài và bà Trần Thị Kỳ sinh được một người con gái là Trần Thị Vưu, lấy về họ Nguyễn và lập con gái làm thừa tự ( lấy ông Nguyễn Sĩ Chước- đời thứ 3)

Ông bà chết và táng ở xứ Đại Ngàn, kỵ ông 10/12, kỵ bà 10 tháng 3

Đời thứ ba

1-    NGUYỄN SĨ DAO  vô tự

2- ÔNG NGUYỄN SĨ CHƯỚC

Ông Sĩ Chước, con ông Sĩ Vận, Cháu ông Sĩ Ưu. 

Sinh, mất năm nào không rõ, kỵ ngày 18/3. 

Mộ ông cát táng taị Nghĩa địa Đá bạc. 

Bà là Trần Thị Vưu, người xứ Đaị Ngàn, con ông Trần Dụng Tài và Bà Trần Thị Kỳ. Mộ bà taị Nghĩa địa Đá bạc, kỵ ngày 25/8. 

Ông bà có 6 người con. 

-Trai             

1)Nguyễn Đình Phia

2)Nguyễn Sĩ Sùng

-Gái             1)  Nguyễn Thị Naị                      

                     2) Nguyễn Thị Bản                     

                     3) Nguyễn Thị Trình                   

                     4) Nguyễn Thị Khăng                 

Đời thứ bốn

Đời thứ 4 có 2 ông và 4 bà con gái

1- ÔNG NGUYỄN ĐÌNH PHIA

Ông Đình Phia kỵ ngày 27/7 – Mộ cải táng ở Rú Ngai.

Bà Phùng Thị Huống – Có 4 người con

Con trai          Nguyễn Đình Doạn

                     Nguyễn Đình Thùy

Con gái           Nguyễn Thị Hoán 

                     Nguyễn Thị Hoàn Chết sớm

2.        ÔNG NGUYỄN SĨ SÙNG

Ông Nguyễn Sĩ Sùng con thứ ông Sĩ Chước cháu ông Sĩ Vận, sinh thời làm Chánh tổng ở làng Kỳ lão.  Kỵ  ngày 30 tháng 12.  Thọ trên 70 tuổi.  Mộ taị nghĩa địa Đá bạc.

Bà chính thất Trần Thị Thứ -Thọ trên 80 tuổi. 

Kỵ ngaỳ 20 tháng 8.  Mộ taị Nghĩa địa Đá bạc. 

Con trai          Nguyễn Đình Đoan

Nguyễn Sĩ Uyên

Nguyễn Đình Ngơi

Con gái           Nguyễn Thị Chuyên

Nguyễn Thị Xuyến 

                      Nguyễn Thị Yên  

Bà thứ thất Trần Thị Chuyên –

Kỵ ngày 12 /12.  Mộ táng tại Đồng Thoong (thất tích)

Con gái           NguyễnThị Ngâm 

CON GÁI ĐỜI THỨ BỐN

1- Nguyễn Thị Naị                  Chồng Trần Đình Diện

2- Nguyễn Thị Bản                 Chồng Đặng Đình Ngoạn

3- Nguyễn Thị Trình               Chồng Trần Đình Quyến

4- Nguyễn Thị Khăng             Chồng Phan Văn Đáng

Đời thứ năm

Đời thứ 5 có 4 ông và 5 bà con gái

1.  ÔNG NGUYỄN SĨ DOẠN

Ông Nguyễn Sĩ Doạn con ông Đình Phia, cháu ông Sĩ Chước -kỵ ngày 25 tháng 10. Mộ thất tích. 

Bà Trần Thị Thanh

Con trai         

Nguyễn Đình Sâm

Nguyễn đình Niêm

Nguyễn Đình Liêm

Con gái           Nguyễn Thị Hườm 

                      Nguyễn Thị Vóc   

2.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH THÙY

Ong Đình Thùy con Ông Đình Phia, cháu ông Sĩ Chước -kỵ ngày 11 tháng 3.  Mộ táng taị Đồng Thoong nay thất tích. 

Bà Trần Thị Hoang kỵ ngày 20 tháng 12 mộ táng taị Lò Nồi

Con trai                    Nguyễn Đình Hận

Con gái                     Nguyễn Thị Trầm 

3.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH ĐOAN

Ông Đình Đoan con ông Sĩ Sùng, Cháu ông Sĩ Chứơc.  Vô tự -Kỵ ngày 12 tháng 12 -mộ táng tại Đầu cầu. 

4- ÔNG NGUYỄN SĨ UYÊN

Ông Sĩ Uyên con ông Sĩ Sùng, cháu ông Sĩ Chước.

Sinh thời ông được phong Viên Phụ, hưởng lộc con làm quan đến lục phẩm.  Tính tình thuần hậu, ông mất năm 1877, hưởng thọ trên 80 tuổi. 

Dị hiệu: Tiền triều ân tử viên phụ lão nhiêu hương đình trùm lão bản xã hiệu sinh hội giá hội kiêm tư văn hội thông hội Nguyễn Quý công, thụy chất trực thuần hậu thân chủ

Kỵ ngày 22 tháng 3.  Mộ tại nghĩa địa Đá bạc. 

Bà Cù Thị Thỏa, mất năm 1882, thọ trên 80 tuổi.  Dị hiệu: Tùng phu chức Nguyễn Chính thất Cù Thị hạng Hiệu Từ mỵ  phu nhân chi linh.  Mộ tại nghĩa địa Đá bạc. 

Con trai          1. Nguyễn Đình Cánh 

                      2. Nguyễn Tính

                      3. Nguyễn Đức

                      4.  Nguyễn Như Bách

 Con gái:         1. Nguyễn Thị Phượng 

                      2. Nguyễn Thị Di chết sớ

                      3.  Nguyễn Thị Nguyên

CON GÁI ĐỜI THỨ NĂM

1- Nguyễn Thị Hoán     chồng Nguyễn Đình Tưởng

2- Nguyễn Thị Chuyên chổng Đặng Đình Thuận

3- Nguyễn Thị Xuyến   chồng Phùng Thiết

4- Nguyễn Thị Yên      chồng Trần Đình Tích

5- NguyễnThị Ngân     chồng Trần Đình Kiệm. 

 

Đời thứ sáu

Đời thứ 6 có 8 ông và 5 bà con gái

1.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH SÂM

Ông Đình Sâm con ông Sĩ Doạn, cháu ông Đình Phia. Bà Hồ Thị Ninh

-Mộ của Ông, Bà táng ở Lò nồi, nay thất tích. 

Con trai          Nguyễn Sàng chết sớm

2.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH NIÊM

Ông Đình Niêm con ông Sĩ Doạn, cháu ông Đình Phia. Bà Lê Thị Chương.  Mộ của ông, bà táng ở Đồng Thoong, nay thất tích

Con trai  Nguyễn Thực – chết sớm

3.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH LIÊM 

chết sớm

4.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH HẬN

Ông Đình Hận con ông Sĩ Thuỳ, cháu ông Đình Phia.

Bà Đặng Thị Diến. Mộ thất tích

Con gái           Nguyễn Thị Lan -Vô tự

5.  ÔNG NGUYỄN ĐÌNH CÁNH

Ông Đình Cánh con ông Sỹ Uyên cháu ông Sĩ Sùng . Chết lúc 18 tuổi, mộ thất tích.  Kỵ ngày 6 tháng 4

6.  ÔNG NGUYỄN TÍNH

Con ông Sỹ Uyên cháu ông Sĩ Sùng (Tiểu sử trang sau)

7.  ÔNG NGUYỄN ĐỨC

Ông Nguyễn Đức con ông Sỹ Uyên cháu ông Sĩ Sùng.  Chết sớm, mộ táng ở Đầu cầu, nay thất tích.  Kỵ ngày 15 tháng 7

8.  ÔNG NGUYỄN NHƯ BÁCH

Ông Như Bách Con ông Sĩ Uyên, cháu ông Sĩ Sùng. Mộ tại nghĩa địa Đá bạc -Kỵ ngày 16 tháng 7. 

Bà cả Phạm Thị Phong người xã Sơn Long

Mộ taị nghĩa địa  Rú Ngai, Kỵ ngày 16 tháng 7

Con trai          Nguyễn Khảo chết sớm

Con gái           Nguyễn thị Hảo chết sớm

Bà thứ  Nguyễn Thị Bính

Con trai       

   Nguyễn Lương 

Con gái           Nguyễn Thị Trương

Khi Ông Như  Bách chết, bà Bính đưa 2 con đi nơi khác sinh sống,

ông Đoàn Trị,

quê ở Đức Hòa, sinh năm 1944, hiện sống ở thành phố Hà Tĩnh về nhận họ.

Theo dòng dõi  thì ông Đoàn Trị là con ông Nguyễn Lương cháu ông Như Bách và bà Nguyễn Thị Bính –   Bà Bính lấy làm vợ kế ông Nguyễn Như Bách sau lúc bà Phạm thị Phong chết. Nhưng sau khi ông Như Bách chết thì bà Bính bán con là ông Nguyễn Lương về làm con nuôi họ Đoàn ở Đức Hòa, cải tên Đoàn Tụy. Ông Lương lớn lên lập gia đình được 2 người con gái và đi phu ở Lào, trong lúc ở nhà vợ có thai, sau đó sinh ông Đoàn Trị – khi tin vợ sinh, ông Lương về lại nhà nhưng trên đường về thị bị chết trên đất Lào, năm 1944. Kỵ ngày 19/12.